HƯỚNG DẪN KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ THUẾ NỘI ĐỊA

Mới đây, Bộ Tài chính đã có văn bản số 111.2021.tt-btc hướng dẫn về công tác kế toán thuế nội địa. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, các quy định mới trong thông báo sẽ được áp dụng và có hiệu lực thi hành. Các bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan tất cả những thông tin chung về nội dung thuế nội địa.

*

1.Khái niệm thuế nội địa

Thuế nội địa được hiểu là sắc thuế đánh vào mọi đối tượng liên quan đến công dân, hoạt động và tài sản của quốc gia.

Các loại thuế nội địa đánh vào cá nhân có thể bao gồm: thuế thu nhập, thuế tiêu thụ đặc biệt. Các loại thuế nội bộ áp dụng cho các công ty bao gồm: thuế pháp nhân công ty, thuế tiêu thụ đặc biệt…Các loại thuế nội bộ đối với hoạt động bao gồm: Thuế giao dịch tài chính; Thuế bán bất động sản; Thuế thừa kế,…Thuế nội địa đối với những thứ như thuế bất động sản; hóa đơn cứu hỏa; phí đăng ký ô tô và xe máy; phí công chứng,…

Đối với một số hàng hóa nhập khẩu, trong quá trình tiêu thụ hàng hóa phải nộp cả thuế nhập khẩu và thuế nội địa.

2. Nghiệp vụ kế toán thuế nội địa cơ bản

Thông tư số 111/2021/tt-btc nêu rõ, kế toán thuế nội địa đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quản lý thuế hiệu quả của cơ quan chức năng. Vì vậy, hoạt động kế toán thuế phải được thực hiện một cách liên tục, có hệ thống theo đúng quy trình quy định tại các văn bản có liên quan.

Kế toán thuế nội địa cũng thực hiện các công việc giống như bất kỳ vị trí kế toán thuế nào. Bao gồm các nhiệm vụ cơ bản sau:

Thu thập, xử lý thông tin đầu vào và lập chứng từ kế toán thuế. Lập hồ sơ kế toán thuế. Lập các báo cáo cần thiết phục vụ nhu cầu quản lý theo quy định của hệ thống kế toán Việt Nam
Lưu trữ, theo dõi và cung cấp cho những người trong phạm vi quản lý của mình các thông tin và tài liệu liên quan đến kế toán thuế.

Quy định về kỳ kế toán thuế:

Kỳ kế toán được xác định theo năm dương lịch, thông thường từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch.

Đối với đơn vị mới thành lập, kỳ kế toán đầu tiên được xác định theo thông tin ghi trên giấy chứng nhận/quyết định kể từ ngày ký quyết định thành lập mới hoặc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập. Trong trường hợp này, kỳ kế toán năm vẫn kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Đối với đơn vị bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, kỳ kế toán cuối cùng được tính từ ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch đến ngày liền kề với ngày có quyết định chia, tách. Hợp nhất, sáp nhập, giải thể có hiệu lực.

Nguyên tắc kế toán:

Xác định ngày nhập sổ kế toán thuế vào phân hệ kế toán thuế của hệ thống là ngày hạch toán. Về nguyên tắc, ngày thu thập thông tin nhập chứng từ kế toán phải phù hợp với ngày phát sinh nghiệp vụ quản lý thuế và chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo của ngày phát sinh nghiệp vụ. Nếu trùng vào ngày nghỉ theo quy định thì bị trừ ngày nghỉ. Ngoại trừ các ngày nghỉ lễ theo luật định, ngày thu thập thông tin là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ lễ.

Nếu kế toán thuế điều chỉnh một giao dịch đã ghi vào kỳ kế toán trước đó, thì việc đó sẽ được thực hiện như sau:

Trường hợp điều chỉnh trước khi kết thúc kỳ kế toán thuế thì hạch toán điều chỉnh vào kỳ kế toán thuế năm trước và được xác định từ thông tin năm tài chính. Trường hợp sau khi kết thúc kỳ kế toán thuế phải điều chỉnh số liệu của kỳ kế toán trước theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Những điểm mới liên quan đến kế toán thuế nội địa tại Thông tư 111/2021/tt-btc

Những nội dung quan trọng liên quan đến kế toán thuế nội địa tại Thông tư 111/2021/tt-btc bao gồm:

Thông tư 111/2021/tt-btc hướng dẫn chi tiết về thuế và thu nhập khác theo Bộ luật quản lý thuế 2019. Chi tiết bao gồm các tài liệu hướng dẫn sau:

+ Quy định chung về kế toán thuế

+ Quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán thuế

+ Nhập thông tin, xử lý chứng từ kế toán thuế

+ tài khoản kế toán thuế; sổ kế toán thuế; báo cáo kế toán thuế;

+ Tổ chức kế toán thuế.

Quy định về đồng tiền trong kế toán thuế tại Thông tư 111/2021/tt-btc cũng có nhiều điểm mới

Đồng tiền sử dụng để ghi sổ kế toán, hạch toán và lập báo cáo kế toán thuế nội địa phải là Đồng Việt Nam. Do đó, nếu ngoại tệ được sử dụng trong quá trình kinh doanh quản lý thuế, kế toán phải quy đổi theo quy định sau:

+ Số tiền tính phí được quy đổi theo tỷ giá ngoại tệ do Bộ Tài chính quy định tại thời điểm hạch toán.

+ Quy đổi số thu theo tỷ giá ngoại tệ ghi trên chứng từ kế toán thu NSNN của Kho bạc và chuyển cho cơ quan thuế.

Kế toán thuế nội địa chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong công việc kế toán tổng hợp. Ngoài ra, do đặc thù chuyên môn của công việc kế toán thuế, mỗi doanh nghiệp cần đầu tư tối đa để nhân sự của mình có thể thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất. Việc đầu tư và ứng dụng phần mềm kế toán chuyên nghiệp là giải pháp vô cùng tối ưu cho doanh nghiệp. Đây được coi là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý tài chính – kế toán toàn diện. Ngoài việc hỗ trợ các vấn đề kế toán thuế, phần mềm còn có thể hỗ trợ đầy đủ tất cả các nghiệp vụ kế toán khác như: kế toán tiền mặt; kế toán mua hàng; kế toán bán hàng; kế toán tài chính, ccdc; kế toán sản xuất, giá thành; kế toán thuế, tiền lương; …

E1;p) C&#x
E1;c c&#x
E2;u hỏi li&#x
EA;n quan đến cam Kết Thuế Nội Địa Đối Với H&#x
E0;ng H&#x
F3;a Nhập Khẩu trong WTO

*

Trung tâm WTO và Hội nhập

Liên đoàn
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Số 9 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội


C&#x
E1;c c&#x
E2;u hỏi li&#x
EA;n quan đến cam Kết Thuế Nội Địa Đối Với H&#x
E0;ng H&#x

Trong WTO, thuế nội địa bao gồm tất cả các loại thuế đánh vào các chủ thể và sản phẩm của hoạt động kinh doanh trừ thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng.

Bạn đang xem: Hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế nội địa

Ví dụ, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp… là các loại thuế nội địa.


Việc ban hành và thực thi các loại thuế nội địa tại tất cả các nước thành viên WTO phải tuân thủ các nguyên tắc của WTO có liên quan đến vấn đề này, bao gồm:

Nguyên tắc đối xử quốc gia (National treatment – NT);Chính sách về trợ cấp

“Đối xử quốc gia” (National Treatment - NT) là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của WTO (Điều III của Hiệp định GATT). Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là nước thành viên có nghĩa vụ phải đối xử với hàng hóa, dịch vụ, nhà đầu tư nước ngoài không kém thuận lợi hơn so với đối xử với hàng hóa, dịch vụ, nhà đầu tư trong nước (về thủ tục, điều kiện, quy định…).

Liên quan đến thuế nội địa, nguyên tắc này yêu cầu các thành viên WTO không được sử dụng thuế nội địa nhằm mục tiêu bảo hộ.

Cụ thể, các thành viên WTO không được áp dụng, dù trực tiếp hay gián tiếp,các loại thuế và phí nội địa, các quy định và yêu cầuliên quan đến các hoạt động mua, bán, chuyên chở, tiếp thị, phân phối hoặc sử dụng hàng hóa trên thị trường nội địa nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước.

Hộp 1 - Một số nội dung cụ thể của nguyên tắc NT về thuế nội địa

Theo nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế nội địa, tất cả các nước thành viên WTO phải đảm bảo:

Không đánh thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu cao hơn mức áp dụng với hàng hóa tương tự sản xuất trong nước;Không phân biệt đối xử việc trong áp dụng thuế nội địa giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa nhằm mục đích bảo hộ những hàng hoá nội địa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp hoặc có khả năng thay thế lẫn nhau với hàng nhập khẩu.

4. Có những hình thức vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế nội địa nào?

Trong lịch sử WTO, các nước thành viên thường vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế nội địa dưới 02 dạng:

Vi phạm hiển nhiên (de jure); và
Vi phạm trá hình (de facto).

Vi phạm hiển nhiên là trường hợp văn bản pháp luật của nước thành viên có quy định phân biệt đối xử về thuế nội địa giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa tương tự.

Hộp 2 – Ví dụ về vi phạm hiển nhiên nguyên tắc đối xử quốc gia trong thuế nội địa

Trước đây Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt của Việt Nam quy định mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng thuốc lá điếu và xì gà như sau:

nếu sản xuất bằng nguyên liệu trong nước: thuế 45%nếu sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu: thuế 65%

Khi Việt Nam đàm phán gia nhập WTO, các thành viên WTO coi quy định này là hiển nhiên vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO và đã yêu cầu Việt Nam sửa đổi trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.

Vi phạm trá hình là trường hợp sự phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa tương tự không được thể hiện trong văn bản pháp luật nhưng được vận dụng khéo léo trong thực tế nhằm mục đích bảo hộ.

Hộp 3 - Ví dụ về vi phạm trá hình nguyên tắc đối xử quốc gia trong thuế nội địa

Luật Thuế Rượu của Nhật Bản qui định các mức thuế nội địa với rượu shochu (một loại rượu hầu như chỉ được sản xuất ở Nhật Bản) thấp hơn hẳn so với các loại rượu khác như vodka, whisky, cognac, rum, brandy, gin và các loại rượu mạnh khác thuộc nhóm HS 2208.

Như vậy về quy định thì không vi phạm nguyên tắc NT (vì đây là các mặt hàng khác nhau nên thuế nội địa có thể khác nhau).

Xem thêm: Cách Sử Dụng Package Trong Java Là Gì? Ý Nghĩa Package Trong Java

Tuy nhiên, trên thực tế cách quy định này lại dẫn đến hệ quả mang tính bảo hộ.

Năm 1995 EU, Hoa Kỳ và Canada đã kiện Nhật Bản ở Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO (DSB) với lý do cách đánh thuế của Nhật Bản như vậy là nhằm mục đích bảo hộ rượu shochu và giảm sự cạnh tranh của các loại rượu nhập khẩu khác. DSB đã ra phán quyết rằng trong trường hợp này, shochu và vodka là các “hàng hóa tương tự”, đồng thời shochu và các loại rượu khác thuộc nhóm HS 2208 là “các mặt hàng cạnh tranh trực tiếp hoặc thay thế lẫn nhau”, do đó bằng việc áp các mức thuế nội địa khác nhau cho các loại rượu này, Luật Thuế Rượu của Nhật Bản vi phạm cả hai yêu cầu 2.2i và 2.2.ii về nguyên tắc đối xử quốc gia đối với thuế nội địa.

Nhật Bản cuối cùng đã phải sửa Luật Thuế Rượu theo khuyến nghị của DSB.


Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO có chứa một số quy định có liên quan đến vấn đề thuế nội địa mà các quốc gia thành viên WTO phải tuân thủ.

Cụ thể, theo Hiệp định này, các quy định về thuế nội địa (ví dụ quy định về ưu đãi, miễn hoặc giảm thuế) không được tạo thành các biện pháp trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế hàng nhập khẩu.


WTO không quy định các thành viên phải cam kết cắt giảm thuế nội địa như đối với thuế nhập khẩu.

Vì vậy, Việt Nam có thể điều chỉnh tăng thuế nội địa đối với một mặt hàng/một nhóm doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh một lĩnh vực nào đó khi cần thiết để điều tiết nền kinh tế miễn là tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia và các quy tắc liên quan đến trợ cấp bị cấm.


Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam duy trì chính sách phân biệt đối xử về thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với một số mặt hàng sau:

Quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô nhập khẩu và ô tô sản xuất trong nước, với thuốc lá sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu và thuốc lá sản xuất từ nguyên liệu trong nước rõ ràng là vi phạm hiển nhiên nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO.

Đối với rượu và bia, mặc dù trong Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và các văn bản hướng dẫn, Việt Nam không qui định phân biệt đối xử về mức thuế tiêu thụ đặc biệt giữa rượu nhập khẩu và rượu sản xuất trong nước, giữa bia nhập khẩu và bia sản xuất trong nước, nhưng các thành viên WTO cho rằng quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt như trên của Việt Nam là phân biệt đối xử một cách trá hình. Đối với rượu , thuế suất với rượu từ 40 độ cồn trở lên là 65% mà phần lớn loại rượu này là nhập khẩu, trong khi thuế suất với rượu từ 20 đến 40 độ cồn chỉ có 30% mà phần lớn rượu sản xuất trong nước thuộc loại này. Tương tự, mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với bia cũng bị coi là phân biệt đối xử giữa bia sản xuất trong nước và bia nhập khẩu vì bia nhập khẩu chủ yếu là bia chai và bia lon còn bia hơi và bia tươi được sản xuất trong nước.


Việt Nam cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO khi ban hành và áp dụng các luật, quy định và các biện pháp khác liên quan đến thuế nội địa (trừ các quy định liên quan đến rượu và bia), đặc biệt là nguyên tắc không phân biệt đối xử, kể từ thời điểm gia nhập WTO. Với cam kết này, cả hai loại vi phạm hiển nhiên và vi phạm trá hình đối với nguyên tắc đối xử quốc gia đều không được phép (Đoạn 198, Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO).

Riêng đối với thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, Việt Nam cam kết trong vòng 3 năm kể từ thời điểm gia nhập WTO sẽ áp dụng thống nhất một mức thuế tiêu thụ đặc biệt (có thể là thuế phần trăm hoặc thuế tuyệt đối) với rượu từ 20 độ cồn trở lên và một mức thuế phần trăm thuế tiêu thụ đặc biệt với bia các loại.


Đánh giá sơ bộ về tác động của cam kết về thuế nội địa, có thể thấy mặc dù Việt Nam đã nâng mức thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng với một số loại hàng hóa sản xuất trong nước như ô tô, thuốc lá điếu và xì gà, rượu, bia (trong 3 năm tới) cho cùng một mức với hàng hóa nhập khẩu cùng loại, các mặt hàng này đều đang chịu thuế nhập khẩu tương đối cao (ô tô: 90%, thuốc lá điếu: 150%, rượu: 65%, bia: 65%) và chỉ được giảm sau 5 - 10 năm, sức cạnh tranh của các sản phẩm nhập khẩu vì vậy cũng không lớn so với các sản phẩm trong nước.