Lễ vu quy là gì? chi phí tổ chức lễ vu quy là bao nhiêu?

Cưới hỏi là sự kiện quan trọng quan trọng của mỗi người. Mỗi nghi lễ khác nhau sẽ có tên gọi khác nhau. Có rất nhiều tên như lễ vu quy, lễ thành hôn, đính hôn… khiến bạn băn khoăn không biết làm sao để phân biệt và sử dụng cho đúng? Hãy cùng Asiana Plaza tìm hiểu kỹ hơn về các nghi lễ này và phân biệt chúng dễ dàng nhất nhé.

Bạn đang xem: Lễ vu quy là gì? chi phí tổ chức lễ vu quy là bao nhiêu?

*
Phân biệt lễ vu quy, tân hôn, thành hôn và đính hôn

1.1 Lễ đính hôn

Ý nghĩa: Hay còn có tên khác là lễ ăn hỏi, ở miền nam gọi là đám hỏi. Lễ này là sự gặp mặt, hứa gả của hai họ với nhau. Lúc này, cô gái và chàng trai coi như đã có hôn ước và trở thành vợ, chồng sắp cưới của nhau.

Trong lễ đính hôn, nhà trai sẽ mang lễ vật đính hôn đến cho nhà gái. Nhà gái nhận lễ này đồng nghĩa với việc đồng ý gả con gái và nhận chàng trai làm rể.

Thời gian tổ chức: Diễn ra tại nhà gái và trước các lễ vu quy và thành hôn.

*
Lễ đính hôn hay còn gọi là lễ ăn hỏi

1.2 Lễ vu quy 

Ý nghĩa: Lễ vu quy là tên gọi riêng dùng ở nhà gái, là nghi lễ để báo gia tiên và quan khách họ nhà gái trước khi đưa cô dâu về nhà chồng.

Thời gian tổ chức: Chương trình lễ vu quy diễn ra tại nhà gái trước khi đưa dâu về nhà chồng. Tên lễ vu quy được gắn trên bảng hiệu treo tại cổng và phông cưới của nhà gái.

Các nghi thức quan trọng trong lễ vu quy: Lễ vu quy tổ chức như thế nào? Thông thường sẽ bao gồm các nghi thức theo trình tự như sau:

Trưởng họ nhà trai đại diện phát biểu ngỏ ý xin dâu. Sau khi nhà gái chấp thuận sẽ mời nhà trai vào nhà.Nhà trai thưa chuyện cưới hỏi và bày biện mâm lễ đã chuẩn bị với nhà gái. Phụ rể rót rượu để 2 bên cùng nói chuyện và ăn mừng.Cô dâu ra mắt 2 họ và đốt nhang cúng bái tổ tiên.Cô dâu và chú rể trao nhẫn cho nhau.Nhà gái trao của hồi môn cho cô dâu.Tiến hành các nghi thức dâng trầu cau và dâng trà. Cô dâu và chú rể chào hỏi 2 bên họ hàng.Lại quả và trao quả (ở mâm lễ vật).

Kết thúc các nghi thức này thường sẽ là tiệc vu quy nhà gái chuẩn bị để chiêu đãi họ nhà gái cũng như đại diện họ nhà trai. Sau đó cô dâu sẽ theo chú rể về nhà chồng và cử hành tiếp đến lễ thành hôn/ tân hôn.

*
Các nghi thức lễ vu quy thường được hai họ tiến hành tại nhà, sau đó sẽ di chuyển đến trung tâm hội nghị tiệc cưới để đãi tiệc / Nguồn ảnh: Internet

1.3 Lễ tân hôn

Ý nghĩa: Là lễ đón dâu mới của nhà trai, nhằm báo gia tiên và quan viên về việc chính thức nhận con dâu.

Thời gian tổ chức: Thường dùng ở nhà trai, đặc biệt là miền Nam. Tên lễ được gắn trên bảng treo ở cổng nhà và và được in trên phông cưới trong buổi tiệc ở nhà hàng.

Xem thêm: Top 3 máy vặn vít makita 12v đáng mua nhất hiện nay, máy bắn vít makita 12v giá tốt t01/2023

*
Lễ tân hôn thường được dùng cho các nhà trai ở miền Nam

1.4 Lễ thành hôn 

Ý nghĩa: Đây là lễ cưới của cô dâu và chú rể khi cô dâu về nhà chồng. Nghi thức có phần đơn giản hơn lễ vu quy ở nhà gái bao gồm: lên đèn bàn gia tiên, cô dâu chào bố mẹ chồng cũng như họ hàng và mời trà.

Thời gian tổ chức: Khác với vu quy, lễ thành hôn sẽ diễn ra ở nhà trai. tên lễ cũng được treo tại cổng và phông cưới. Ngày nay, lễ thành hôn được tổ chức nhiều tại các nhà hàng lớn, cô dâu chú rể cùng bố mẹ 2 bên sẽ có đôi lời phát biểu về ngày vui; sau đó cùng nhau uống sâm panh chúc mừng và cắt bánh cưới trước quan khách.

*
Lễ thành hôn thường được dùng cho nhà trai gốc Bắc hoặc Trung

Có thể thấy, ý nghĩa lễ vu quy và lễ thành hôn tương tự nhau. Dù tên gọi của 2 lễ này có sự khác nhau nhưng thực chất 2 lễ này là một. Cách gọi khác nhau nhằm chỉ địa điểm tổ chức khác nhau: Lễ vu quy dùng cho nhà gái, còn lễ thành hôn thì dùng cho nhà trai. 
Khi hiểu rõ ý nghĩa của lễ tân hôn là gì, vu quy là gì, thành hôn là gì thì bạn có thể dễ dàng lựa chọn tên lễ phù hợp để in lên thiệp mời. Hơn nữa, ngôn từ hay từ ngữ sử dụng trên thiệp cần có sự phù hợp, thống nhất giữa hai gia đình.

Cưới hỏi là sự kiện quan trọng của cả đời người nên cần phải được trau chuốt kỹ lưỡng dù là những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Hình thức lẫn nội dung trong thiệp cần được chú trọng, cung cấp đầy đủ thông tin cho khách mời. Kiểu chữ, phông chữ, màu sắc trên thiệp cần hài hòa, đẹp mắt. Điều này thể hiện sự tinh tế của cả 2 gia đình cũng như sự tôn trọng đến bạn bè quan khách.

*
Ngôn từ sử dụng trong thiệp cưới cần có sự thống nhất từ 2 bên gia đình

Thông thường, thiệp mời nhà gái sẽ in dòng chữ lễ vu quy, còn nhà trai là lễ thành hôn. Tuy nhiên, đây không phải là điều bắt buộc, có gia đình sẽ lựa chọn in tên lễ là lễ tân hôn chẳng hạn nên điều này phụ thuộc vào quan điểm cũng như thỏa thuận của hai họ.

Đến đây, bạn đã biết được sự khác nhau giữa lễ vu quy, tân hôn, thành hôn là gì rồi phải không? Hy vọng với những thông tin mà Asiana Plaza chia sẻ trên đây sẽ phần nào hữu ích với bạn.

Các hình ảnh về lễ vu quy, lễ tân hôn hay thành hôn trong bài đều là các buổi lễ được tổ chức tại Asiana Plaza. Chúng tôi là địa điểm chuyên tổ chức tiệc cưới hàng đầu tại TP.HCM. Không chỉ hỗ trợ cô dâu – chú rể có một buổi tiệc chiêu đãi họ hàng đáng nhớ qua các khía cạnh: sảnh tiệc có sức chứa lớn với phong cách chiết trung ấn tượng; ẩm thực tiệc cưới đa dạng và hấp dẫn; các gói trang trí hoa tươi độc đáo; cung cách phục vụ chuyên nghiệp và tận tình từ phía đội ngũ nhân viên. Asiana Plaza còn giúp các cặp đôi nhẹ bớt gánh nặng về chi phí với các gói ưu đãi tiệc cưới vô cùng hấp dẫn qua từng mùa. Đảm bảo bắt kịp mọi xu hướng cưới mới nhất, dịch vụ đẳng cấp 5* với chi phí đầy thấu hiểu.

1. Vu quyKhi đi dự lễ cưới, nếu ở bên nhà cô dâu chúng ta sẽ thấy biển đề: Lễ Vu quy. Vậy xuất xứ của từ vu quy như thế nào?
Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chủ chú: “vu 于: đi; quy 歸: con gái về nhà chồng”. Như vậy vu quy 于歸 có nghĩa là con gái đi về nhà chồng. Trong Kinh thi, từ vu quy xuất hiện ở bài Đào yêu thiên Chu nam: Đào chi yêu yêu/ Chước kì hoa/ Chi tử vu quy/ Nghi kì thất gia. Nghĩa là “Cây đào tơ xanh mơn mởn, hoa đỏ hồng rực rỡ. Cô ấy về nhà chồng, hòa hợp với gia đình nhà chồng của cô”.Từ vu quy đã hình thành nên thành ngữ gốc Hán Nạp thái vu quy, có nghĩa là “đưa đồ sính lễ qua nhà gái để xin rước dâu về”. Thành ngữ này cũng đã được dùng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: Định ngày nạp thái vu quy/ Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong. Hay ca dao Nam Bộ có câu: Chữ rằng chi tử vu quy/ Làm thân con gái phải đi theo chồng.

*

Tranh minh họa (Nguồn Internet)

2. Xuất giáThành ngữ gốc Hán có câu Tam tòng tứ đức để chỉ những chuẩn mực đạo đức, những ràng buộc mà người phụ nữ xưa phải tuân thủ, trong đó Tam tòng là Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha, lúc lấy chồng phải theo chồng, nếu chồng qua đời phải theo con trai). Như vậy xuất giá có nghĩa là con gái theo chồng.Về từ này, các từ điển hầu như thống nhất với nhau trong cách giải thích. Bửu Kế trong Từ điển Hán Việt từ nguyên (NXB Thuận Hóa – 2009) đã chú: xuất 出là ra khỏi nhà; giá 嫁 là gả (Con gái ra lấy chồng). Các tác giả trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) viết: “xuất giá: đi lấy chồng”. Tuy nhiên khi tra Hán Việt tự điển của Thiều Chủ, chúng ta đã bắt gặp một “mã văn hóa” khá thú vị của người Trung Hoa xưa được đan cài trong chữ giá: “Giá: Lấy chồng, Kinh lễ định con gái hai mươi tuổi thì lấy chồng gọi là xuất giá 出嫁”.

3. Giá thúTrong mùa cưới đôi khi chúng ta hay nghe từ giá thú. Từ giá thú cũng đã từng xuất hiện trong nhan đề một quyển tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng, tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú. Tuy nhiên, nhiều bạn trẻ hiện nay khi được hỏi về nghĩa của từ này thì hầu như họ không trả lời được.Tác giả Trịnh Mạnh trong Tiếng Việt lí thú (tập 2) do NXB Giáo dục ấn hành năm 2004 đã giải thích: Giá là con gái đi lấy chồng; Thú là con trai đi lấy vợ.Trong Từ điển Hán Việt do NXB TP.Hồ Chí Minh xuất bản, Nguyễn Tôn Nhan chú: “Giá 嫁: con gái đi lấy chồng, con gái đi sang nhà chồng; Thú 娶: lấy vợ, lấy con gái người khác về làm vợ mình”.Qua những cách chú thích trên chúng ta nhận thấy, ban đầu từ giá thú chỉ được hiểu với một nghĩa hẹp là chỉ việc lấy chồng lấy vợ. Tuy nhiên hiện nay, từ giá thú cần phải được hiểu rộng hơn: Giá thú là việc lấy vợ lấy chồng được pháp luật thừa nhận (theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên). Vậy nên trong tiếng Việt cũng đã xuất hiện hàng loạt những từ, những ngữ liên quan đến từ giá thú như: giấy giá thú (giấy đăng kí kết hôn), hôn nhân ngoài giá thú (hôn nhân không được pháp luật thừa nhận)…Tìm hiểu một số từ liên quan đến việc cưới xin, nhận thấy một điều thú vị là những chữ như: hôn 婚, nhân 姻, giá 嫁, thú 娶 đều liên quan đến bộ nữ 女(toàn bộ những chữ ấy đều thuộc bộ nữ 女). Mặc dầu những chữ như: nhân 姻, thú 娶không có nghĩa nào liên quan đến con gái sắp lấy chồng hoặc họ nhà gái cả. Điều này xuất phát từ một dấu ấn văn hóa cổ xưa của người Trung Hoa. Xã hội Trung Hoa cổ đại vốn là một xã hội mẫu hệ. Thế nên việc cưới xin do người phụ nữ làm chủ. Cũng vì lí do này mà nhiều chữ Hán liên quan đến việc cưới xin đều có liên quan đến bộ nữ. Tuy nhiên, sau này khi xã hội Trung Hoa đã dịch chuyển từ ý thức mẫu hệ sang ý thức phụ hệ cùng với việc định hình thể chế phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ thì những chữ mang hàm nghĩa xấu lại có liên quan đến bộ nữ như: cô 姑 (tạm bợ), gian 姦 (gian xảo), nịnh 佞 (nịnh hót), đố 妬 (ghen tị)…