Nghị định thư kyoto là gì?

SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN GIỮA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

Chính phủ các nước Brunei Darussalam, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa In-đô-nê-xia, Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào (“Lào PDR”), Ma-lai-xia, Liên bang Myanmar, Cộng hòa Phi-líp-pin, Cộng hòa Xinh-ga-po, Vương quốc Thái lan và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các Quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (gọi chung là “ASEAN” hoặc gọi riêng là “Quốc gia thành viên ASEAN”), và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (“Trung Quốc”);

NHỚ LẠI Hiệp định Thương mại Hàng hóa trong khuôn khổ Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc (“Hiệp định Thương mại Hàng hóa”), do các Bộ trưởng Kinh tế của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc ký tại Viêng Chăn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày 29 tháng 11 năm 2004;

GHI NHẬN RẰNG ngày 18 tháng 7 năm 2005 Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết Bản Ghi nhớ về các vấn đề còn tồn tại trong Khuôn khổ Hiệp định Thương mại Hàng hóa (“Bản Ghi nhớ giữa Trung Quốc và Việt Nam”);

NHẰM bổ sung các nghĩa vụ ngoài các nghĩa vụ quy định trong Hiệp định Thương mại Hàng hóa và các Phụ lục của Việt Nam như được quy định trong Bản Ghi nhớ giữa Trung Quốc và Việt Nam;

GHI NHẬN rằng Điều 19 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa quy định Hiệp định có thể sửa đổi nếu có văn bản thống nhất của các Bên;

ĐÃ THỐNG NHẤT NHƯ SAU:

Điều 1. Sửa đổi Chú thích số 2 trong Điều 8 (1) của Hiệp định Thương mại Hàng hóa

Chú thích số 2 trong Điều 8 (1) của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được xóa bỏ và thay bằng một chú thích mới như sau:

“2 Các thành viên ASEAN chưa phải là thành viên WTO sẽ loại bỏ các hạn chế định lượng của họ sau 3 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực hoặc phù hợp với cam kết của họ khi gia nhập WTO, tùy thời điểm nào sớm hơn.”

Điều 2. Sửa đổi Phụ lục 1 của Hiệp định Hàng hóa về Mô hình Cắt giảm đối với các dòng Thuế trong Lộ trình thông thường

1. Các cam kết của Việt Nam đối với các dòng thuế trong Phụ lục 1 của Hiệp định này sẽ được bổ sung vào Phụ lục 1 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa với chú thích sau trong Đoạn 1 (ii) của Phụ lục 1 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa:

“Mặc dù đã có mô hình cắt giảm thuế này, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế quan của những sản phẩm trong Tiểu Phụ lục 1 của Phụ lục này theo lịch trình quy định trong đó”

2. Đoạn 6(b)(iii) của Phụ lục 1 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được xóa bỏ và thay toàn bộ bằng đoạn mới 6(b)(iii) như sau:

“(iii) Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan của 45% dòng thuế trong Danh mục Thông thường không muộn hơn ngày 1 tháng 1 năm 2013.”

3. Đoạn 7 của Phụ lục 1 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được sửa đổi như sau:

4. Danh mục các mặt hàng trong Phụ lục 2 của Nghị định thư này sẽ được bổ sung vào Tiểu Phụ lục 2 thuộc Phụ lục 1 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa.

Bạn đang xem: Nghị định thư kyoto là gì?

Điều 3. Sửa đổi Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa về Mô hình cắt giảm thuế quan đối với những dòng thuế trong Lộ trình Nhạy cảm

1. Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được sửa đổi như sau:

(a) Đoạn 1(iii) thuộc Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được loại bỏ hoàn toàn.

(b) Đoạn 1(ii) của Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được sửa đổi thành:

“(ii) Cam-pu-chia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Mi-an-ma và Việt Nam: 500 dòng thuế cấp 6 số.”

(c) Đoạn 2(iii) thuộc Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được loại bỏ và thay bằng đoạn 2(iii) mới như sau:

“(iii) Việt Nam:

Sẽ duy trì không quá 40% tổng số dòng thuế trong Lộ trình Nhạy cảm hoặc 140 dòng thuế ở cấp 6 số, tùy mức nào thấp hơn.”

(d) Đoạn 3(ii) của Phụ lục 2 của Hiệp định Hàng hóa sẽ được xóa bỏ và thay bằng đoạn 3(ii) như sau:

(e) Đoạn 7 của Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa sẽ được xóa bỏ và thay bằng đoạn 7 mới như sau:

“7. Việc xử lý các dòng thuế áp dụng hạn ngạch thuế quan của các Bên sẽ được thảo luận và thống nhất trên cơ sở song phương. Bất kỳ thỏa thuận nào đạt được trong các cuộc thảo luận song phương đó sẽ trở thành một phần không thể tách rời của Hiệp định Thương mại Hàng hóa và sẽ được mở rộng cho tất cả các Bên khác.”

2. Tiểu Phụ lục 1 và Tiểu Phụ lục 2 của Phụ lục 2 sẽ được thay thế bởi Tiểu Phụ lục 1 và Tiểu Phụ lục 2 mới trong Phụ lục 3 và Phụ lục 4 của Nghị định thư này.

3. Các cam kết của Việt Nam trong Lộ trình Nhạy cảm, như quy định trong Phụ lục 3 của Nghị định thư này, sẽ được bổ sung vào Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa với việc đưa vào đoạn 9 mới

“Mặc dù có mô hình cắt giảm thuế cho Lộ trình Nhạy cảm, Việt nam cũng sẽ giảm thuế đối với các mặt hàng trong Tiểu Phụ lục 3 của Phụ lục 2 của Hiệp định Thương mại Hàng hóa phù hợp với Lịch trình quy định trong đó.”

Điều 4. Hiệu lực

1. Nghị định thư này là một phần không thể tách rời của Hiệp định Thương mại Hàng hóa và sẽ có hiệu lực vào ngày ký kết.

2. Đối với các Quốc gia Thành viên ASEAN, Nghị định thư này sẽ được Ban Thư ký ASEAN lưu chiểu. Ban Thư ký ASEAN sẽ chuyển ngay một bản sao có chứng thực của Nghị định thư cho từng Quốc gia thành viên ASEAN.

TRƯỚC SỰ CHỨNG KIẾN, những người ký dưới đây được ủy quyền của Chính phủ của họ đã ký Nghị định thư sửa đổi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá trong khuôn khổ Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế Toàn diện giữa Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Nghị định thư Kyoto là một thỏa thuận về việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gắn liền với Chương trình Khung Liên hiệp quốc về Biến đổi Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change – UNFCCC).

Nội dung chính của Nghị định thư Kyoto là đưa ra các mục tiêu mang tính bắt buộc đối với 37 nước công nghiệp trên thế giới và Liên minh Châu Âu (EU) về việc giảm lượng khí thải nhà kính. Theo đó, các nước này đến năm 2012 phải giảm lượng phát thải khí nhà kính, chủ yếu là carbon dioxide, ít nhất 5% so với mức phát thải năm 1990. Mức giảm cụ thể áp dụng cho từng quốc gia thay đổi khác nhau. Ví dụ, các nước EU là 8%, Mỹ 7%, Nhật Bản 6%, Australia 8%, trong khi New Zealand, Nga và Ucraina được duy trì mức phát thải hiện tại. Riêng một số quốc gia vốn có lượng phát thải khí nhà kính thấp được phép tăng lượng phát thải, như Na Uy được tăng 1% hay Iceland 10%.

Xem thêm: Công dụng của sáp nhũ hoá mềm mượt trong việc sản xuất mỹ phẩm

*

Các nước tham gia vào Nghị định thư Kyoto phải chịu sự giám sát và quản lý bởi các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc về lượng khí thải cắt giảm. Các quốc gia được chia làm hai nhóm: nhóm các nước phát triển thuộc Phụ lục I của Nghị định thư, buộc phải có bản đệ trình thường niên về các hành động cắt giảm khí thải; và nhóm các nước đang phát triển nằm ngoài Phụ lục I của Nghị định thư, bao gồm đa số các nước đang phát triển và cả một số nền kinh tế lớn mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil. Những nước này ít chịu ràng buộc hơn so với các nước thuộc nhóm Annex I.

Nghị định thư Kyoto yêu cầu các quốc gia tham gia cam kết thực hiện các mục tiêu nêu trên thông qua ba cơ chế chính được đưa ra trong Hiệp định Marrakesh (Marrakesh Accord) được thông qua năm 2001, bao gồm (1) Cơ chế thị trường khí thải, hay còn gọi là thương mại khí thải; (2) Cơ chế phát triển sạch; và (3) Cơ chế đồng thực hiện.

Theo đó, thông qua cơ chế thị trường khí thải, các quốc gia có hạn ngạch phát thải dư thừa có thể bán hạn ngạch này cho những nước có lượng phát thải vượt mức cho phép. Cơ chế phát triển sạch cho phép các quốc gia phát triển tài trợ cho các dự án giúp giảm lượng phát thải tại các nước đang phát triển, qua đó các nước tài trợ sẽ được gia tăng lượng hạn ngạch phát thải ở nước mình. Đây được xem như một công cụ hiệu quả nhằm giúp các nước đang phát triển tham gia vào Nghị định thư Kyoto, giúp nâng cao năng lực công nghệ ở các quốc gia này, đồng thời giải quyết được bài toán lợi ích giữa kinh tế và môi trường tại các quốc gia phát triển. Tương tự, cơ chế đồng thực hiện cũng cho phép một quốc gia thành viên tự thực hiện một dự án ở một quốc gia thành viên khác và qua đó giành được thêm hạn ngạch phát thải ở nước mình.

Nghị định thư Kyoto cũng được cho là một trong những tiền đề hình thành nên khái niệm “ngoại giao khí hậu”, vốn xuất hiện trong khoảng 7 đến 8 năm trở lại đây, khi các diễn biễn phức tạp của khí hậu cùng các hệ quả của nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ quốc tế. Những quốc gia công nghiệp và các nước phát triển được cho là “thủ phạm” chính gây ra sự biến đổi khí hậu (đứng đầu là Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản), tuy nhiên lại không phải là những nước gánh chịu hậu quả nặng nề nhất, mà lại là các quốc gia đang phát triển. Các nước phát triển dù cam kết đi đầu trong việc cắt giảm lượng khí thải nhà kính theo Nghị định thư, nhưng thực tế lại tìm nhiều cách lảng tránh vấn đề như trì hoãn phê chuẩn, thực hiện, đưa những dây chuyền công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm sang các nước đang phát triển.

Đặc biệt, Mỹ là quốc gia công nghiệp chiếm đến 25% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên thế giới nhưng lại không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vì cho rằng điều này sẽ gây thiệt hại đối với kinh tế Mỹ. Thay vào đó, chính phủ Mỹ năm 2001 đã cam kết sẽ thực thi kế hoạch của Tổng thống George W. Bush về tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng trong 10 năm (2002-2012), đưa nồng độ carbon trong các ngành công nghiệp Mỹ giảm 18%.

Biến đổi khí hậu hiện nay được xếp vào hàng “an ninh phi truyền thống”, được dự báo là có thể trở thành thách thức lớn nhất với hòa bình và an ninh thế giới, hơn cả chủ nghĩa khủng bố. Hậu quả của biến đổi khí hậu (các thảm họa thiên nhiên, các vấn đề môi trường…) có thể làm thay đổi nguồn phân bổ tài nguyên, dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực, an ninh năng lượng và làm bùng nổ các làn sóng di cư, gây xung đột và làm bất ổn chính trị xã hội.

Từ năm 2009, Liên Hiệp Quốc cùng các nhà lãnh đạo thế giới đã gia tăng hợp tác và bàn thảo một thỏa thuận môi trường thay thế Nghị định thư Kyoto (sẽ hết hiệu lực vào năm 2012). Tuy nhiên, trải qua không ít các vòng đàm phán liên tiếp, các nước vẫn chưa đi đến một sự đồng thuận nào về vấn đề này, do còn nhiều khác biệt về lợi ích (đặc biệt là xung đột lơi ích giữa môi trường và kinh tế) giữa các quốc gia.