ĐƯA EM TÌM ĐỘNG HOA VÀNG

Nếu thi sĩ Phạm Thiên Thư được mệnh danh là “người thi hoá Kinh Phật” thì nhạc sĩ Phạm Duy chính là “người đời hoá thơ của Phạm Thiên Thư”.

Bạn đang xem: Đưa em tìm động hoa vàng

Những bài nhạc Phạm Duy nổi tiếng nhất phổ từ thơ Phạm Thiên Thư, ngoài 10 bài đạo ca thì còn có các ca khúc Ngày Xưa Hoàng Thị, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, đặc biệt là Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, phổ từ bài thơ Động Hoa Vàng từng đoạt giải thưởng Văn học toàn quốc vào năm 1971. Có thể nói tài năng phổ nhạc của Phạm Duy và tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh chính là hai yếu tố quan trọng đưa những tứ thơ phiêu lãng của Phạm Thiên Thư đến với đông đảo công chúng yêu nghệ thuật.


Click để nghe Thái Thanh hát Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng thu âm trước 1975

Nguyên gốc bài thơ kể về câu chuyện tình đời của một chàng học trò ngày ngày đèn sách nhưng thi mãi không đậu. Chàng yêu và muốn cưới một cô gái trong làng làm vợ nhưng lực bất tòng tâm vì gia cảnh nghèo khó, công danh sự nghiệp lại không có gì. Chàng đành đau khổ, bất lực nhìn người yêu bị đem gả cho một công tử con nhà giàu. Sau vài năm quyết chí ngày đêm dùi mài kinh sử, cuối cùng chàng thi đậu trạng nguyên và được ra làm quan. Tuy nhiên, chốn quan trường danh lợi đua chen bạc bẽo khiến chàng chán nản, xin cáo quan về quê, chọn sống cuộc đời ẩn dật với hoa cỏ gió trăng.

Mối tình eo le với những ngã rẽ bất ngờ trong cuộc đời chàng trai được Phạm Thiên Thư thi hoá bằng những ca từ bay bổng, da diết, lồng ghép những ý tứ, mong ước về một cuộc sống bình an, phiêu bồng và thoát tục. Tuy nhiên, nếu Phạm Thiên Thư diễn giải câu chuyện khá dài bằng 400 câu thơ, chia thành 100 khổ thì nhạc sĩ Phạm Duy đã chắt lọc lại còn vài ba chục câu mà ông tâm đắc nhất để đưa vào âm nhạc.

Xem thêm: Dày Công Sưu Tầm, Nhân Giống Hoa Mẫu Đơn Hồng Phấn, Trang 1 Cốt Màu Hồng Phấn


*
*
*
*
*

Thôi thì thôi để mặc mây trôiÔm trăng đánh giấc bên đồi dạ lanThôi thì thôi chỉ là phù vânThôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi 

Và dù “gã” chưa thể đạt được trạng thái tinh thần cao vợi đó của các bậc cao minh thì trong sâu thẳm lòng mình gã vẫn nuôi ước mơ, vẫn dằn lòng mình xuống, vui vầy với hiện tại, “ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan”, để “mặc mây trôi”. Bởi “gã” hiểu rằng tất cả “chỉ là phù vân”, tất cả chỉ “có ngần ấy thôi”. Mọi vật vã mong cầu hay cuồng quay chiếm hữu chỉ làm nặng thêm một kiếp người. Chi bằng cứ bình thản bước đi, bình thản đón nhận mọi biến thiên của thân phận, trời đất:

Chim ơi chết dưới cội hoaTiếng kêu rơi rụng giữa giang hàMai ta chết dưới cội đàoKhóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu

Cuộc dạo chơi vào thiên thu ấy được thi nhân ví như là “chim ơi chết dưới cội hoa”. Có loài chim nào chết dưới cội hoa? Đó là The thorn bird, là tiếng chim hót trong bụi mận gai, loài chim ấy chỉ hót một lần trong đời, ngọt ngào hơn bất cứ âm thanh nào trên đời này. Một khi trưởng thành, rời tổ, nó tìm ngay một cành cây đầy gai nhọn, phóng mình vào, đồng thời cất lên tiếng hót duy nhất trong đời. Tiếng hót lúc đó là bài ca tuyệt diệu nhất, mang theo cả niềm hạnh phúc vô tận của tình yêu đồng thời cả chất liệu thống thiết khổ đau hàm ẩn của nó.

Hai câu hát cuối cùng gợi nhớ đến tích Trương Chi – Mỵ Nương. Sau khi anh lái đò Trương Chi ôm mối tương tư mất ăn mất ngủ, sầu héo dần, anh chết đi nhưng khối tim si tình vẫn còn, kết thành pha lê trong vắt tuyệt đẹp. Số mệnh đưa viên pha lê đó về lại bên Mỵ Nương, rồi được tiện thành cái ly.

Một lần Mỵ Nương uống nước chợt bóng Trương Chi hiện nơi đáy cốc. Xúc động nàng đánh rơi. Ly không vỡ, nhưng sau chỉ một giọt nước mắt thương yêu của Mỵ Nương, chiếc ly bỗng tan thành nước.

Chỉ một giọt nước mắt nhỏ vào thiên thu, “gã” có thể thỏa nguyện cho giấc ngủ ngàn năm.