SỬ DỤNG CÔNG CỤ CÂY VẤN ĐỀ TRONG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG

Nếu hiện tượng mang tính bất thường, nghĩa là chỉ xảy ra một lần, thì chỉ cần can thiệp điều chỉnh và không cần quan tâm thêm nữa. Nếu hiện tượng lập đi lập lại thì đó là dấu hiệu của vấn đề mang tính hệ thống, được gọi tắt là vấn nạn. Khi ấy cần phải tìm giải pháp. Trong trường hợp đối tượng phục vụ cùng lúc đối mặt nhiều vấn nạn, thì mỗi vấn nạn đòi hỏi một giải pháp riêng.

Bạn đang xem: Sử dụng công cụ cây vấn đề trong phân tích thực trạng


Khi được khảo sát hiện trạng, đối tượng phục vụ có thể nêu ra nhiều vấn đề. Các vấn đề liên quan mật thiết với nhau trong quan hệ nhân-quả phải được gom lại thành một nhóm. Bước kế tiếp là truy nguyên nhân đằng sau các hiện tượng lập đi lập lại.
“Cây Vấn Đề” (Problem Tree) là công cụ luận lý (còn gọi là lô-gíc) để truy căn nguyên của một vấn nạn bằng những chuỗi quan hệ nhân-quả.Hình 1. Minh hoạ về Cây Vấn Đề

*


Thân Cây: Mô tả vấn nạn mà đối tượng phục vụ gặp phải và chúng ta muốn giúp họ giải quyết. Ví dụ: Phụ nữ ở Huyện ABC bị bạo hành gia đình.
Cành Cây: Mỗi nhánh cây là một chuỗi hệ quả tạo ra bởi vấn nạn cho từng thành phần của đối tượng phục vụ. Ví dụ: Nạn nhân của sự bạo hành bị ảnh hưởng sức khoẻ; con cái của họ bị tác động tiêu cực về học vấn; thân nhân bị thêm gánh nặng… Từ mỗi cành chính lại có thể trổ ra những cành phụ, là hệ quả tầng 2, tầng 3. Chẳng hạn, do sức khoẻ bị ảnh hưởng, nạn nhân không thể đi làm để tạo thu nhập; con cái phải bỏ học; người trong nhà gấu ó nhau vì mâu thuẫn tăng…
Ngoài ra, cành cây cũng có thể bao gồm các yếu tố tác động đến hoặc chịu ảnh hưởng của đối tượng phục vụ. Chẳng hạn, chương trình xã hội giúp nạn nhân bạo hành gia đình cũng có thể nằm trong chuỗi hệ quả. Tình trạng bạo hành gia đình tăng sẽ làm kiệt quệ nguồn lực của các chương trình xã hội, và chính nạn nhân sẽ bị ảnh hưởng dội ngượci: sự giúp đỡ mà họ nhận từ các chương trình xã hội sẽ giảm.
Rễ Cây: Mỗi rễ cây là một chuỗi nguyên nhân tạo ra vấn nạn. Nguyên nhân gần nhất, còn gọi là nguyên nhân tầng 1, là nguyên nhân tác động trực tiếp đến vấn nạn nhưng có thể không phải là nguyên nhân gốc. Nó có thể bị tác động bởi nguyên nhân sâu hơn, ở tầng 2, hoặc sâu hơn nữa. Những nguyên nhân ở tầng sâu nhất được gọi là những nguyên nhân gốc hoặc những căn nguyên.
Muốn giải quyết một vấn nạn thì phải tác động đến các căn nguyên. Nếu chỉ đối phó hệ quả thì giống như xức dầu ngoài da cho người bị nội thương. Ngay cả khi tác động đến nguyên nhân nhưng không phải nguyên nhân gốc thì sự thay đổi cũng chỉ được một thời gian, xong đâu lại vào đó vì yếu tố căn nguyên sẽ kéo tình trạng trở lại như cũ.

*
Màu nâu là ”thân cây”. Trên đó là “cành cây”. Dưới đó là “rễ cây”. Tìm giải pháp cho một vấn nạn, phần rễ cây là tối quan trọng. Nó ẩn dưới mặt đất, không dễ phát hiện nhưng lại chính là yếu tố duy trì vấn nạn và, nếu không được giải quyết, thường làm cho vấn nạn trở nên trầm trọng hơn.

Hình 3. Phần “rễ cây”

*


Cây Vấn Đề là chuỗi tương quan lô-gíc nhân quả từ gốc đến ngọn. Khi thiết kế Cây Vấn Đề, người sử dụng phải luôn kiểm tra mối tương quan nhân-quả từ dưới lên trên.
Qua công trình nghiên cứu: Thường chỉ khả thi đối với những vấn nạn lớn và tổ chức có nguồn lực dồi dào.Qua kinh nghiệm và suy luận: Đòi hỏi sử kiểm chứng và điều chỉnh các giả định về quan hệ nhân-quả trong suốt quá trình thực thi giải pháp. Chẳng hạn, khi nhân ở tầng dưới xê dịch nhưng quả ở tầng trên không thay đổi thì có nghĩa là quan hệ nhân-quả rất mong manh hoặc không có. Khi ấy Cây Vấn Đề cần được điều chỉnh.

Cách thiết kế Cây Vấn Đề

Thiết kế bằng 3 bước:

(1) Vẽ thân cây giữa trang giấy và mô tả tóm tắt vấn nạn.

(2) Dùng các mẩu giấy rời để ghi xuống tất cả những giả định về nguyên nhân.

(3) Sắp xếp các mẩu giấy này thành chuỗi quan hệ nhân-quả từ dưới lên trên; loại bỏ những nguyên nhân giả định nào không thể đặt vào chuỗi quan hệ nhân-quả.

Khi hoàn tất thì sẽ có phần nửa dưới -- phần “rễ cây” -- của Cây Vấn Đề. Làm y như vậy cho phần nửa trên -- phần “cành cây”.

Hình 3 là quan hệ nhân-quả cho ví dụ về phụ nữ ở Huyện ABC bị bạo hành gia đình.

Theo Cây Vấn Đề này thì có 3 căn nguyên:

Ý thức cộng đồng kém về bạo hành gia đình, cho nên có ít tổ chức ở địa phương chuyên về bài trừ nạn bạo hành gia đình hoặc giúp đỡ cho nạn nhân, dẫn đến tình trạng rất ít dịch vụ hỗ trợ để nạn nhân có thể tiếp cận. Kết quả là nạn nhân không thể nương tựa vào cộng đồng hoặc xã hội khi gặp nạn.Nhiều gia đình còn nặng thành kiến trọng nam khinh nữ, chồng chúa vợ tôi, cho nên không bảo bọc hoặc bênh vực nạn nhân mà nhiều khi đổ lỗi cho nạn nhân, dẫn đến tình trạng nạn nhân bị cô lập hoặc cô đơn về mọi mặt. Kết quả là nạn nhân không thể nương tựa vào gia đình, thân nhân.Khung luật lỏng lẻo về trừng phạt thủ phạm và bảo vệ nạn nhân bạo hành gia đình dẫn đến tâm lý vô can nơi kẻ bạo hành. Điều này đóng góp cho sự gia tăng hành vi bạo hành. Đồng thời, khung luật lỏng lẻo không bảo vệ được nạn nhân và do đó nạn nhân cũng không thể trông đợi gì nơi luật pháp.

Phần 2 của cây vấn đề nêu lên những hệ luỵ của bạo hành gia đình. Mỗi cành cây cũng là một chuỗi quan hệ nhân-quả từ thấp lên cao.

Xem thêm: Mixer Mini Cũ Giá Tốt T01/2023, Thanh Lý Mixer Bàn

Một số điểm chung của Cây Vấn Đề

Có khi Cây Vấn Đề được thiết kế một cách khá phức tạp với rễ chằng chịt và nhánh rậm rạp.

Hình 4. Một Cây Vấn Đề phức tạp

*


Thực ra, ít khi nào cần quá 3 nhánh rễ cây: 1 nhánh thể hiện vấn đề nội tại của đối tượng phục vụ; 1 nhánh thể hiện yếu tố gây hại; 1 nhánh thể hiện yếu tố hỗ trợ mà đối tượng phục vụ có thể huy động.
Ít khi nào cần quá 3 tầng “rễ cây”: 1 tầng tương ứng với sự tái diễn theo thời gian hoặc không gian; thêm 1 tầng tương ứng với sự tái diễn theo cả thời gian lẫn không gian; và 1 tầng “trừ hao” trong trường hợp căn nguyên nằm sâu hơn dự đoán.
Dưới đây là Cây Vấn Đề áp dụng cho ví dụ thực tế về cộng đồng người Hmong theo Đạo Tin Lành ở Tiểu Khu 179, Xã Liêng Sronh, Huyện Đam Rông, Tỉnh Lâm Đồng. Một vấn nạn của họ là đã sống 21 năm không giấy tờ tuỳ thân. Lưu ý là phần cành cây không nhất thiết có đúng 3 nhánh; có thể nhiều hơn hoặc ít hơn, tuỳ tình trạng thực tế của đối tượng phục vụ.
Điểm lưu ý nữa trong ví dụ này là, khi khảo sát cộng đồng, người thực hiện khảo sát có thể được người dân kể cho biết về nhiều vấn đề, nào là trẻ em không có giấy khai sinh, không được đi học; người lớn không có giấy tờ tuỳ thân nên không thể tìm việc làm; gia đình rất khó khăn và bấp bênh về sinh kế; người dân nói chung chỉ sống cho qua ngày chứ không thấy lối thoát nào cho tương lai. Thực ra, các vấn đề này đều là hệ quả của vấn nạn là không giấy tờ tuỳ thân.

Hình 5. Cây Vấn Đề cho ví dụ về vấn nạn không giấy tờ tuỳ thân của cư dân Tiểu Khu 179

*

Hầu như vấn nạn nào cũng đều hiện hữu một hay nhiều vòng lẩn quẩn. Vòng lẩn quẩn nảy sinh khi hệ quả tác động vòng lại đến một hay nhiều nguyên nhân. Vòng lẩn quẩn duy trì vấn nạn, hoặc làm cho nó trầm trọng hơn. Chẳng hạn, khi người lớn phải suốt ngày lo sinh kế thì họ không có thời gian để học hỏi nhằm tăng kiến thức và năng lực. Hoặc, trẻ em không được đi học thì thế hệ sau tiếp tục kém về hiểu biết và năng lực. Thêm vào đó, vì không giấy tờ tuỳ thân, người dân khó đi đây đi đó để tiếp xúc với thế giới bên ngoài, càng thêm bị cô lập với quốc tế. Đấy là lý do người dân ở Tiểu Khu 179 bị trói cột trong hoàn cảnh nghiệt ngã trong suốt 2 thập niên.

Hình 6. Cây Vấn Đề ở trên với vòng lẩn quẩn

*

Muốn thay đổi, cần có sách lược để tác động đến các nguyên nhân gốc và bẻ gãy các vòng lẩn quẩn. Đấy sẽ là chủ đề của bài giảng kế tiếp: Đề ra sách lược, dùng Biểu Đồ Chuyển Đổi.

Phân tích vấn đề là bước rất quan trọng quyết định việc thành công của chiến lược can thiệp. Chỉ có xác định chính xác các nguyên nhân gốc rễ gây nên vấn đề chúng ta mới có thể tìm ra các giải pháp phù hợp để có thể cải thiện vấn đề đó.
Sau khi xác định được vấn đề ưu tiên can thiệp, bước tiếp theo các nhà quản lý hay các cán bộ y tế cần phải làm là phân tích vấn đề đó để xác định các nguyên nhân gây ra vấn đề. Việc phân tích vấn đề có những lợi ích sau:
- Phát hiện được những nguyên nhân gây nên vấn đề, nguyên nhân nào là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân nào là nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính, nguyên nhân nào là nguyên nhân ph ụ trợ...
- Việc phân tích một cách khoa học, đúng kỹ thuật sẽ giúp xác định được các nguyên nhân một cách hệ thống, logic, tránh bỏ sót nguyên nhân
- Thông qua phân tích vấn đề, các nguyên nhân gốc rễ sẽ được phát hiện, việc này giúp cho việc đầu tư nguồn lực vào các chương trình can thiệp có hiệu quả, có trọng điểm và phù hợp với tình hình thực tế.
Tóm lại phân tích vấn đề là bước rất quan trọng quyết định việc thành công của chiến lược can thiệp. Chỉ có xác định chính xác các nguyên nhân gốc rễ gây nên vấn đề chúng ta mới có thể tìm ra các giải pháp phù hợp để có thể cải thiện vấn đề đó.
Có nhiều kỹ thuật phân tích vấn đề. Trong khuôn khổ bài viết này xin được tập trung giới thiệu 2 kỹ thuật phân tích thường gặp và dễ sử dụng là:
Cả 2 kỹ thuật trên đều sử dụng cách đặt câu hỏi “nhưng tại sao” (But why technique) nhiều lần để xác định các nguyên nhân của vấn đề thông qua m ối quan hệ “nhân-quả”.
Mối quan hệ nguyên nhân - kết quả diễn ra theo chuỗi. Trong trường hợp đơn giản, A có thể dẫn tới B, và B dẫn tới C như hình dưới đây.
*

Ví dụ, khi phát hiện thấy số lượng bệnh nhân không chịu trả viện phí cao, câu hỏi tại sao lần 1 được đặt ra và câu trả lời là “vì bệnh nhân không muốn trả viện phí”. Nếu chúng ta chỉ dừng việc phân tích nguyên nhân ở đây thì giải pháp cải thiện phù hợp sẽ là thực hiện truyền thông để nâng cao tinh thần trách nhiệm, thay đổi hành vi của khách hàng và giải pháp này khá tốn kém, cần thời gian dài. Nếu đặt câu hỏi tại sao lần 2 có tể tìm ra câu trả lời là “do các hóa đơn in ra bị sai” và nếu can thiệp ở đây thì cách can thiệp sẽ là sửa các hóa đơn và cũng mất khá nhiều thời gian công sức. Nếu đặt câu hỏi tại sao thêm lần nữa (lần 3) ta thu được câu trả lời là “do kế toán vào nhầm số liệu” và giải pháp có thể là “đuổi việc kế toán” hoặc “đưa kế toán đi đào tạo thêm”. Nhưng nếu hỏi thêm tại sao lần nữa, lần 4, câu trả lời là “do phần mềm nhập số liệu có trường nhập số liệu không phù h ợp với biểu mẫu” và cách giải quyết vừa đơn giản vừa rẻ tiền là chỉnh lại trường nhập số liệu không thích hợp của phần mềm. Qua ví dụ này chúng ta có thể thấy với cách thức đặt câu hỏi tại sao nhiều lần để tìm được nguyên nhân cụ thể chúng ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian để giải quyết và việc nâng cao chất lượng sẽ hiệu quả.
*

Cũng qua ví dụ trên chúng ta có thể tự hỏi rằng sẽ phải hỏi bao nhiêu lần "tại sao" để có thể tìm được nguyên nhân gốc rễ. Điều này hoàn toàn rất linh hoạt vì nguyên nhân gốc rễ được định nghĩa là nguyên nhân gây nên vấn đề và có thể can thiệp, giải quyết được trong điều kiện thực tế tại địa phương. Như vậy, cùng một vấn đề nhưng tại các địa phương khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau mà lại xác định các nguyên nhân gốc rễ khác nhau. Ví dụ, cùng là vấn đề tiêu chảy ở trẻ em cao thì có nơi nguyên nhân gốc rễ tìm ra là "Thiếu nước sạch" trong khi nơi khác lại xác định "việc chế biến thức ăn cho trẻ chưa đảm bảo vệ sinh" là nguyên nhân gốc rễ. Kinh nghiệm cho thấy để có thể xác định được nguyên nhân gốc rễ, thông thường chúng ta cần hỏi câu hỏi "tại sao" từ 3-5 lần, tuy nhiên đó không phải là quy định bắt buộc. Bên cạnh đó, việc xác định các nguyên nhân vấn đề cần dựa trên các thông tin, số liệu thực tế chứ không nên chỉ dựa vào các suy luận mang tính chủ quan. Đôi khi, chúng ta phải thu thập thêm thông tin để có đầy đủ cơ sở khẳng định mối quan hệ "nhân-quả" trong quá trình phân tích cũng như để khẳng định nguyên nhân tìm ra thực sự là nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Việc tìm ra chính xác các nguyên nhân gốc rễ sẽ giúp đầu tư nguồn lực hiệu quả vào các can thiệp phù hợp, tránh được sự lãng phí, kém hiệu quả khi giải quyết dàn trải tất cả các nguyên nhân hay giải quyết các nguyên nhân không thực sự gây nên vấn đề hay những nguyên nhân không thể giải quyết được trong hoàn cảnh hiện tại.
Sơ đồ khung xương cá là một công cụ phân tích vấn đề đơn giản và hiệu quả. Sơ đồ khung xương cá là một bức tranh mô tả mối quan hệ logic giữa một vấn đề và các nguyên nhân gây ra vấn đề đó, giúp nhóm làm việc dễ thống nhất cách phân tích để tìm ra nguyên nhân của vấn đề cần giải quyết.
Bước 1: Vẽ mô hình khung xương cá, gồm đầu cá và trục xương chính, trục xương chính vẽ từ trái qua phải.
Bước 3: Xác định các xương chính: Các xương chính của khung xương là các yếu tố chủ yếu liên quan đến vấn đề. Có 2 cách để xác định các xương chính này: